|
Con
đường
quốc
lộ
32
mới
trải
nhựa
băng
băng
đưa
chúng
tôi
đến
làng
nghề
mỹ
nghệ
Sơn
Đồng
(huyện
Hoài
Đức,
thành
phố
Hà
Nội).
Mặc
dù
chỉ
cách
trung
tâm
Hà
Nội
chừng
15
km,
nhưng
hôm
nay
tôi
mới
có
dịp
“mục
sở
thịâ€
làng
nghề
có
truyền
thống
nghìn
năm
này.
Những
pho
tượng
Phật,
đồ
thờ,
hoành
phi,
câu
đối,…
ở
khắp
nơi
trên
quê
hương
Việt
Nam
đều
ghi
dấu
ấn
của
bao
thế
hệ
người
thợ,
nghệ
nhân
làng
nghề
mỹ
nghệ
Sơn
Đồng.
Lịch
sử
phát
triển
làng
nghề
Từ
ngã
tư
thị
trấn
Trạm
Trôi
đi
vào
khoảng
gần
2km
là
du
khách
đã
đặt
chân
tới
làng
nghề
mỹ
nghệ
Sơn
Đồng,
nơi
được
coi
là
“thế
giới”
của
những
tượng
phật,
đồ
thờ.
Nhìn
khung
cảnh
của
xã
Sơn
Đồng
hôm
nay
sầm
uất
chẳng
khác
gì
thị
trấn
ở
phố
huyện,
với
không
khí
nhộn
nhịp,
vội
vã,
các
nhà
hàng
ăn
uống,
dịch
vụ
kinh
doanh,
biển
hiệu
công
ty
san
sát
hai
bên
đường.
Xã
Sơn
Đồng
có
giao
thông
khá
thuận
lợi,
đường
vào
xã
có
nhiều
cây
xanh
che
bóng
mát,
hiện
toàn
xã
có
11
xóm,
2.000
hộ
và
trên
8.000
khẩu,
trong
đó
có
tới
80%
số
hộ
làm
nghề
tạc
tượng,
đồ
thờ.
Trong
các
xóm
làm
nghề
thì
có
lẽ
nổi
bật
nhất
là
khu
vực
“Xóm
ngã
tư”.
Trước
mặt
du
khách
là
những
biển
hiệu
sơn
son
thếp
vàng
gắn
với
tên
tuổi
của
các
nghệ
nhân
có
tiếng
trong
làng,
với
những
sản
phẩm
ăn
sâu
trong
thế
giới
tâm
linh
của
người
dân
như
những
pho
A-di-đà,
Di
lặc,
thần
Tài,
hoành
phi
câu
đối…
Theo
nghệ
nhân
Nguyễn
Viết
Thạnh,
Chủ
tịch
Hiệp
hội
làng
nghề
mỹ
nghệ
Sơn
Đồng,
thì
Làng
nghề
này
đã
hình
thành
và
phát
triển
được
hơn
1.000
năm,
kể
từ
khi
nền
văn
hoá
Phật
giáo
được
truyền
bá
vào
Việt
Nam.
Trong
thời
kỳ
phong
kiến,
Làng
nghề
có
hàng
trăm
người
thợ
được
phong
Tước
bá
hộ
kỹ
nghệ
(nay
gọi
là
nghệ
nhân).
Các
dấu
ấn
vật
thể
1.000
năm
Thăng
Long
- Hà
Nội
đều
có
đôi
bàn
tay
tài
hoa
của
người
nghệ
nhân
Sơn
Đồng
tham
gia
như
Văn
miếu
Quốc
Tử
Giám,
Khuê
Văn
Các,
đền
Ngọc
Sơn,
cầu
Thê
Húc,
chùa
Một
Cột...
Làng
nghề
mỹ
nghệ
Sơn
Đồng
từng
bị
mai
một
vào
những
năm
kháng
chiến
chống
Mỹ
và
thời
kỳ
bao
cấp,
nhưng
sau
đó
đã
được
hai
nghệ
nhân
Nguyễn
Chí
Dậu
và
Nguyễn
Đức
Cường
khôi
phục
vào
năm
1983.
Cụ
Nguyễn
Chí
Dậu,
nghệ
nhân
từ
thời
thuộc
Pháp
đã
quyết
định
khôi
phục
nghề
truyền
thống
bằng
việc
đứng
ra
tổ
chức
lớp
học
nghề
chạm
khắc
gỗ
và
sơn
mài,
cốt
là
để
truyền
nghề
cho
con
cháu.
Hơn
30
học
viên
ngày
đó,
bây
giờ
đã
trở
thành
những
người
thợ
giỏi,
chủ
cơ
sở
sản
xuất
lớn
trong
làng
và
đang
tiếp
tục
truyền
nghề
cho
thế
hệ
trẻ.
Đến
nay,
nghề
truyền
thống
của
làng
chủ
yếu
mang
tính
gia
truyền
bằng
miệng,
chứ
không
có
sách
vở
nào,
bố
truyền
cho
con,
con
truyền
cho
cháu,
cứ
thế
nối
tiếp
thế
hệ
trước
cho
thế
hệ
sau.
Trải
qua
những
thăng
trầm
để
tồn
tại
một
làng
nghề
nghìn
năm
tuổi,
ngày
nay,
người
dân
Sơn
Đồng
đã
lấy
ngày
6-2
âm
lịch
hàng
năm
là
ngày
hội
làng,
con
cháu
ở
khắp
nơi
về
sum
họp,
tế
lễ
thành
hoàng
làng.
Hiện
nay,
cả
xã
có
hơn
4.000
nghìn
lao
động
làm
nghề
thủ
công
mỹ
nghệ
thường
xuyên,
trong
đó
có
đến
hơn
một
nửa
là
thợ
giỏi
và
nhiều
thợ
giỏi
được
tôn
vinh,
phong
danh
hiệu
nghệ
nhân.
Sản
phẩm
của
Làng
nghề
mỹ
nghệ
Sơn
Đồng
chiếm
khoảng
trên
50%
thị
phần
toàn
quốc
về
tượng
và
đồ
thờ
sơn
son
thếp
vàng,
thếp
bạc
phủ
màu
hoàng
kim,
phục
vụ
mảng
đời
sống
văn
hoá
tâm
linh,
tín
ngưỡng
của
người
dân.
Điều
đáng
nói
là
khách
hàng
cần
đặt
làm
bất
cứ
pho
tượng
thờ
nào
thì
người
thợ
nơi
đây
đều
làm
được
ngay
mà
không
cần
mẫu
sinh
kề
(mẫu
có
sẵn).
Các
pho
tượng
đều
trở
nên
có
hồn
qua
đôi
bàn
tay
khéo
léo
của
người
thợ.
Để
làm
được
điều
đó,
đòi
hỏi
người
thợ
phải
có
kinh
nghiệm,
hiểu
được
các
điển
tích,
tính
cách,
chức
vụ,
vị
trí
của
từng
pho
tượng
trong
tâm
thức
để
rồi
thổi
hồn
vào
các
tác
phẩm.
Quy
trình
chế
tác
Về
quy
trình
chế
tác,
ngoài
công
thức
chung
kế
thừa
của
cha
ông
thì
mỗi
nghệ
nhân
ở
Sơn
Đồng
cũng
có
những
thủ
pháp,
những
bí
truyền
với
cách
phân,
quân
tỷ
lệ
không
hoàn
toàn
giống
nhau.
Chẳng
hạn
một
nghệ
nhân
khi
đục
pho
tượng
Phật
bà
Quan
Âm
ngồi
thường
là
đục
bốn
diện
(khuôn
mặt
tính
từ
chân
tóc
tới
cằm
gọi
là
“mặt
diện”.
Trong
giải
phẫu
tạo
hình
hiện
đại
gọi
là
“một
đầu”).
Nhưng
cũng
có
khi
Phật
ngồi
chỉ
có
ba
diện
rưỡi,
hoặc
bốn
diện
rưỡi.
Cũng
có
khi
làm
một
pho
tượng
đứng
phải
“dựng”
tới
bảy
diện.
Điểm
chung
giữa
các
nghệ
nhân
khi
làm
tượng
là
đều
lấy
diện
(bằng
một
đầu)
làm
chuẩn
để
tính
tỷ
lệ.
Tỷ
lệ
tượng
ngồi
bằng
bốn
diện
và
tượng
đứng
bằng
bảy
diện.
Ngoài
ra,
về
chiều
cao
thân
tượng
thì
phải
tuân
thủ
theo
một
số
công
thức
sau:
rộng
vai
tượng:
từ 2
đến
4
diện;
dài
tay:
3
diện;
bề
dày
thân
từ
1,5
đến
2
diện.
Công
thức
đó
có
xê
dịch
tùy
theo
tượng
béo
hay
gầy,
tượng
nam
hay
nữ
(tượng
béo
có
độ
dày
thân
tượng
cao,
tượng
nam
vai
rộng
hơn
tượng
nữ...).
Một
người
thợ
cho
biết,
đục
tượng
bao
giờ
cũng
bắt
đầu
từ
việc
chọn
gỗ.
Nguyên
liệu
để
làm
tượng
Phật
là
gỗ
mít,
đây
là
chất
liệu
duy
nhất
được
phát
hiện
và
tin
dùng
từ
lâu.
Gỗ
mít
có
đặc
tính
dẻo,
mềm,
thớ
dặm,
nhờ
đó
tránh
được
những
sơ
suất
trong
khi
đục.
Gỗ
mít
còn
có
độ
bền
cao,
ít
nứt,
dễ
gọt.
Người
dân
Sơn
Đồng
phải
mua
nguồn
gỗ
mít
từ
các
tỉnh
như
Phú
Thọ,
Thái
Nguyên,
Thanh
Hóa,
Nghệ
An...
Gỗ
chở
về
loại
bỏ
hết
phần
giác,
chỉ
dùng
lõi
để
đục.
Sau
đó,
người
thợ
dùng
dây
đo
thể
tích
để
cắt
phần
gỗ:
chiều
cao,
chiều
ngang
và
bề
dày
(kích
thước
của
một
khối
hình),
rồi
đến
cắt
“dưỡng”
-
hình
mẫu
cắt
theo
“công
tua”
hai
chiều:
chiều
nghiêng
(nhìn
mặt
bên
tượng)
và
chiều
đứng
(nhìn
chính
diện).
Phần
gia
công
đầu
tiên
là
đầu
và
mặt
tượng.
Đục
phác
thảo
những
khối
mũ
(nếu
có)
rồi
trán,
mũi,
môi,
tai...
Trên
khuôn
mặt
tượng,
người
thợ
cũng
phân
chia
từng
mảng,
diện
như
khoảng
cách
giữa
hai
con
mắt,
từ
chân
tóc
tới
chân
mày,
chiều
dài
sống
mũi,
bề
rộng
cánh
mũi,
khoảng
cách
giữa
môi
trên
và
môi
dưới,
từ
môi
dưới
tới
cằm,
độ
dày
của
môi...
Đặc
biệt
là
tai
Phật,
phải
tính
đặt
cân
đối
hợp
lý
trong
khoảng
cách
từ
chân
tóc
(2
bên
đầu)
tới
cằm.
Sau
khi
đục
phác
lấy
dáng
chung
một
lượt
suốt
từ
diện
tới
bệ,
đến
khâu
đục
chi
tiết,
người
thợ
cũng
thể
hiện
dần
từng
bộ
phận.
Khâu
này
được
coi
là
quan
trọng
nhất
trong
cả
quá
trình
hoàn
thành
pho
tượng.
Cuối
cùng
là
khâu
gọt,
nạo,
rồi
đánh
giấy
ráp
cho
nhẵn.
Trong
khi
gọt,
người
thợ
dùng
loại
đục
dẹt,
mỏng
để
tách
các
chi
tiết,
sao
cho
các
mảng
các
khối
(chân
tay
và
các
ngón)
khỏi
“dính”
vào
nhau,
nhất
là
phải
thể
hiện
kỹ
các
đường
lượn,
mảng
miếng.
Gọt
nạo
là
khâu
hoàn
chỉnh
phần
gỗ
trước
khi
chuyển
sang
phần
sơn.
Kỹ
thuật
sơn
son
thếp
vàng
tượng
cũng
kỳ
công
như
nghệ
thuật
làm
vóc
sơn
mài.
Đầu
tiên
“hom”
tượng
bằng
sơn
trộn
đất
phù
sa
(tỷ
lệ
sao
cho
không
được
non
sơn,
cũng
không
được
già
quá)
rồi
“bó”
bằng
sơn
sống
rồi
sơn
“thí”.
Sau
mỗi
công
đoạn
đều
phải
mài
tượng
bằng
đá
và
nước.
Sơn
lên
rồi
lại
mài
đi,
rồi
lại
sơn
lên...,
cứ
thế,
bao
giờ
thấy
bề
mặt
tượng
phẳng
nhẵn
và
mọng
lên
thì
dùng
một
lớp
sơn
(gọi
là
sơn
cầm
thếp)
phủ
lên.
Để
sơn
cầm
thếp
se
(sờ
tay
thấy
còn
hơi
dính)
thì
dán
bạc
hoặc
dán
vàng
(bạc,
vàng
quỳ)
tùy
theo
yêu
cầu
của
khách.
Quỳ
là
một
loại
bột
từ
vàng,
bạc
miết
trên
một
tờ
giấy
mỏng
(giấy
quỳ).
Người
ta
đem
những
lá
vàng,
lá
bạc
(loại
cao
tuổi)
dát
mỏng
cắt
thành
những
mảnh
vuông,
xếp
vào
giữa
những
tờ
giấy,
rồi
dùng
búa
nện
đều
cho
đến
khi
vàng
tan
thành
bột.
Theo
ông
Nguyễn
Chí
Quảng
- ở
xóm
ngã
tư,
thì
để
làm
xong
pho
tượng
to
phải
mất
40
công,
còn
tượng
nhỏ
khoảng
5 -
10
công,
nguyên
liệu
để
làm
tượng,
đồ
thờ,
ngoài
gỗ
mít
còn
có
gỗ
dổi,
vàng
tâm.
Làm
tượng
là
khó
nhất,
người
thợ
phải
thổi
được
hồn
vào
pho
tượng,
nhìn
có
dáng,
khách
trông
thấy
là
nhận
ra
ngay
là
ông
tượng
nào…
Tiếng
thơm
vang
xa
Thành
quả
mà
những
người
thợ
Sơn
Đồng
thu
được
sau
bao
ngày
đêm
miệt
mài
bên
xưởng
gỗ
là
tiếng
thơm
không
chỉ
vang
danh
khắp
mọi
miền
tổ
quốc,
mà
còn
vang
xa
tới
nhiều
quốc
gia
trên
thế
giới,
nhắc
đến
tượng
Phật
là
người
ta
nghĩ
ngay
đến
Sơn
Đồng.
Với
đôi
bàn
tay
tài
hoa,
những
người
thợ
làng
Sơn
Đồng
đã
cho
ra
đời
nhiều
tác
phẩm
nghệ
thuật
đòi
hỏi
độ
tinh
xảo
cao
như
bức
tượng
Phật
bà
nghìn
tay,
nghìn
mắt,
tượng
ông
Thiện,
ông
Ác,
tượng
La
Hán,
kiệu
bát
cống...
Đi
đến
đâu
trong
cả
nước,
du
khách
đều
bắt
gặp
các
tượng
thờ
do
người
thợ
Sơn
Đồng
chế
tác.
Một
nghệ
nhân
cao
niên
tự
hào
là
người
đã
tạc
được
hàng
trăm
pho
tượng
có
giá
trị
cung
cấp
cho
các
chùa
Quán
Sứ,
Liên
Phái,
Trấn
Quốc,
Hương
Ký
(Hà
Nội),
chùa
Hương,
chùa
Trăm
Gian
(Hà
Tây
cũ)
và
nhiều
chùa
khác
trên
mọi
miền
tổ
quốc.
Cũng
có
những
người
thợ
trẻ
đã
mạnh
dạn
làm
các
bức
tượng
cao
từ
3,5m
-
4,5m,
đây
là
một
kỷ
lục
mà
trước
đó
chưa
ai
làm.
Tiếp
nối
truyền
thống
cha
ông,
song
các
thợ
trẻ
cũng
biết
sáng
tạo,
đổi
mới
cho
phù
hợp
với
nhu
cầu
của
khách
hàng.
Những
lớp
thợ
trẻ
giờ
đây
không
chỉ
kế
thừa
những
nét
tài
hoa
về
tay
nghề,
mà
còn
rất
năng
động
trong
cơ
chế
thị
trường.
Về
Sơn
Đồng
hôm
nay,
du
khách
sẽ
được
tận
mắt
chứng
kiến
quy
trình
chế
tác
tượng
và
được
hòa
mình
trong
bản
“bản
nhạc”
làng
nghề
với
tiếng
lách
cách
của
người
thợ
đục
tượng,
tiếng
máy
cưa
xoèn
xoẹt
âm
vang
khắp
ngõ
xóm.
Quả
thực,
khi
được
chứng
kiến
thì
mới
thấy
hết
nỗi
vất
vả,
khó
nhọc
của
người
thợ,
khi
mỗi
tác
phẩm
nghệ
thuật
hoàn
thành
đều
ẩn
chứa
trong
đó
mồ
hôi,
trí
tuệ
của
những
người
thợ
chân
đất.
Nhiều
người
dân
Sơn
Đồng
hôm
nay
phải
thốt
lên
rằng,
chính
cái
nghề
nghìn
năm
tuổi
của
cha
ông
đã
giúp
họ
làm
giàu,
giải
quyết
việc
làm
cho
hàng
nghìn
lao
động,
trong
khi
đồng
đất
đang
bị
thu
hẹp
bởi
tốc
độ
đô
thị
hóa
cao.
Bà
con
vẫn
thầm
cảm
ơn
các
nghệ
nhân
đã
góp
phần
khôi
phục
làng
nghề,
có
những
hộ
làm
nghề
từ
nhiều
đời
nay
đã
viết
tiếp
trang
sử
làng
nghề
Sơn
Đồng
mà
người
ta
không
thể
không
nhắc
tới
như
nghệ
nhân
Nguyễn
Viết
Thạc,
Nguyễn
Bá
Khẩn,
Trần
Quang
Khang…
Có
những
người
thợ
năm
xưa
nay
đã
trở
thành
những
ông
chủ
xưởng
lớn
của
làng,
với
3
xưởng
sản
xuất,
hoạt
động
quanh
năm
lúc
nào
cũng
có
từ
40 -
50
thợ
làm
thuê,
đáng
kể
như
các
ông
Nguyễn
Chí
Quảng,
Nguyễn
Chí
Dũng,
Trần
Đình
Cường,
Nguyễn
Viết
Hồng,…
Đến
nay,
cả
xã
có
hơn
5 hộ
thành
lập
công
ty
để
xúc
tiến
thương
mại,
ký
kết
với
khách
hàng
trong
và
ngoài
nước.
Trong
thời
kỳ
hội
nhập
kinh
tế
quốc
tế,
nhiều
người
thợ
Sơn
Đồng
còn
làm
cả
tượng
chân
dung,
tượng
mỹ
nghệ
để
xuất
khẩu,
đáp
ứng
nhu
cầu
của
các
đối
tác
nước
ngoài.
Không
ít
Việt
kiều
sau
khi
đến
tham
quan
làng
nghề
Sơn
Đồng
đã
đặt
hàng,
thậm
chí
còn
mời
những
người
thợ
ra
nước
ngoài
để
xây
chùa,
đình
phục
vụ
cộng
đồng
người
Việt
ở
đó.
Giờ
đây,
giá
trị
của
những
bức
tượng
được
nâng
lên
hơn
trước
rất
nhiều,
có
một
số
bức
tượng
khách
hàng
đặt
mua
tới
hơn
100
triệu
đồng.
Sự
phát
triển
mạnh
mẽ
của
làng
nghề
Sơn
Đồng
những
năm
gần
đây
đồng
nghĩa
với
nhu
cầu
về
mặt
bằng
sản
xuất
phải
được
mở
rộng
hơn
nữa.
Không
ít
hộ
muốn
mở
rộng
sản
xuất
nhưng
do
không
có
đất
nên
đành
“lực
bất
tòng
tâm”.
Vì
vậy,
để
duy
trì
và
phát
triển
làng
nghề
Sơn
Đồng
có
tính
bền
vững,
chính
quyền
các
cấp
cần
quy
hoạch
làng
nghề,
tạo
điều
kiện
hơn
nữa
cho
các
hộ
dân
mở
rộng
sản
xuất,
góp
phần
làm
giàu
cho
quê
hương,
đất
nước,
tạo
việc
làm
ổn
định
cho
người
lao
động
trong
xã.
Nghệ
nhân
Nguyễn
Viết
Thạnh
-
Chủ
tịch
Hiệp
hội
làng
nghề
Mỹ
nghệ
Sơn
Đồng
mong
muốn
những
chính
sách
khuyến
khích,
hướng
dẫn
phát
triển
làng
nghề
đi
vào
cuộc
sống
của
làng
nghề
cần
hiệu
quả
hơn
nữa.
Các
văn
bản
hướng
dẫn
cần
cụ
thể,
chi
tiết
hơn,
để
người
lao
động
làm
nghề
tiếp
cận
được
các
chính
sách
hỗ
trợ
và
phát
triển
làng
nghề.
Những
hội
nghị
của
Nhà
nước,
các
cấp
bàn
về
các
vấn
đề
phát
triển
làng
nghề
nên
có
thêm
thành
phần
là
người
làm
nghề
tham
gia,
để
họ
nói
lên
được
tiếng
nói
thiết
thực
của
người
làm
nghề,
góp
phần
xây
dựng,
hoạch
định
chính
sách
về
việc
phát
triển
làng
nghề
được
sát
hơn.
Nguyễn
Văn-TCCN |